Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

'Mọi tập đoàn đều có thể cổ phần hóa'



Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước là bức thiết và không có lĩnh vực nào là “cấm kỵ” đối với cổ phần hóa.

- Câu chuyện nợ nần của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lại được nhắc nhiều thời gian gần đây. Theo bà đâu là nguyên nhân chính của thực trạng này?
Bà Phạm Chi Lan cho rằng có thể cổ phần hóa tất cả các doanh nghiệp Nhà nước. Ảnh: B.H
Bà Chi Lan cho rằng có thể cổ phần hóa hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước. Ảnh: B. H
- Nguyên nhân chủ yếu của những bê bối tại tập đoàn, tổng công ty nằm ở việc khu vực Nhà nước đang tham gia vào quá nhiều hoạt động, dự án khác nhau, ở nhiều lĩnh vực nhưng đều không hiệu quả. Theo thống kê, doanh nghiệp Nhà nước bỏ 13 đồng vốn mới thu được một đồng tăng trưởng, trong khi khối tư nhân chỉ cần nửa đồng. Con số nợ 218.000 tỷ của các tập đoàn, tổng công ty cũng từ đó mà ra và rất khó giải quyết khi mà tỷ lệ nợ ở nhiều nơi đã cao gấp 10 lần vốn chủ sở hữu.
Trước đây khi mới hình thành tập đoàn, có nhiều ý kiến cho là không cần thí điểm nhiều, chỉ dừng lại ở khoảng 2 đơn vị rồi đánh giá tất cả các mặt xem mô hình như vậy có ổn hay không, tác dụng nó mang lại ra sao, hiệu quả mang lại như thế nào… Nhưng việc thực hiện vẫn ồ ạt, trong khi doanh nghiệp lại hoạt động không hiệu quả, nợ nần nhiều nhiều như hiện nay.
- Những khoản nợ đó ảnh hưởng thế nào đến nợ công của Việt Nam?
- Vừa rồi WB có thống kê nợ công của Việt Nam khoảng 52% GDP. Nhưng đó là họ chưa tính hết trái phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước phát hành. Ví dụ như Tổng công ty Lắp máy (Lilama) đang đứng trước kỳ hạn (tháng 9) phải trả hơn 900 tỷ đồng cho khoảng 2.000 tỷ trái phiếu phát hành cách đây mấy năm nhưng đang khó về nguồn trả nợ. Còn của các tập đoàn, tổng công ty doanh nghiệp nhà nước khác thì chưa biết là bao nhiêu, trách nhiệm phải trả như thế nào.
Nhìn ra thế giới thì Trung Quốc năm ngoái mới giật mình khi nợ địa phương quá lớn. Ireland trước đây cũng vỡ nợ chủ yếu do tiền vay của doanh nghiệp. Do vậy, nợ của các tập đoàn, tổng công ty cao ở Việt Nam là đáng lo, chứ không chỉ căn cứ vào tỷ lệ nợ trên GDP mà nói là an toàn.
- Bà nghĩ sao khi các doanh nghiệp cho rằng họ phải thực hiện "nhiệm vụ chính trị" nên không thể làm ăn có lãi?
- Chính bởi sự “nhập nhèm” này mà quá trình tái cơ cấu phải tách bạch nhiệm vụ của doanh nghiệp. Trách nhiệm chính trị mà họ vẫn nói đến thực chất là nhiệm vụ xã hội về thực hiện chính sách. Nhưng thực tế tôi cho rằng việc này không hao tiền tốn của như họ vẫn kêu. Ở nước ta, tỷ lệ nghèo giảm liên tục. Hiện là 12%, so với hơn 20% trước đây thì không thể nói là số tiền hỗ trợ (về giá điện, giá viễn thông, giao thông…) cao hơn ngày xưa được. Vậy tại sao bây giờ vẫn cứ kêu là phải hỗ trợ nhiều, đó là cái không sòng phẳng, không rõ ràng.
Lẽ ra thay vì để cho các doanh nghiệp “mang tiếng” là làm chính sách, Nhà nước nên hỗ trợ thẳng cho người nghèo. Chẳng hạn như việc hỗ trợ thẳng 30.000 đồng tiền điện một tháng cho các hộ nghèo như giải pháp chống lạm phát năm ngoái. Hỗ trợ như thế thì không tốn bao nhiêu tiền mà chức năng doanh nghiệp lại được tách bạch. Còn chuyện doanh nghiệp kêu khó vì suy thoái kinh tế thì tôi cho rằng đấy là khó khăn chung, mình khó thì người ta cũng khó. Không nên lấy đó làm lý do để bao biện.
- Vậy những mâu thuẫn này được giải quyết như thế nào trong đề án tái cơ cấu doanh nghiệp mà Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ?
- Tôi có chung quan điểm với một số đại biểu Quốc hội khi cho rằng đề án này chưa được cụ thể. Ví dụ như khi nói về tái cơ cấu, doanh nghiệp Nhà nước được chia làm 4 loại. Có loại cần giữ 100%, có loại Nhà nước giữ đa số, bán bớt cổ phần hoặc bán hẳn. Nhưng không có cái tên cụ thể nào, ngành nào trong số hơn 1.300 doanh nghiệp hiện tại được chỉ ra. Tôi và các đại biểu đều kỳ vọng ở một bức tranh cụ thể hơn.
Nếu không có một chuẩn phân loại cụ thể, đến lúc thực hiện, người ta có thể tùy nghi, bán đi vài đơn vị tượng trưng hoặc bán cổ phần ở một số rất ít ở những doanh nghiệp không quan trọng. Còn những doanh nghiệp mà thường gây ra nợ nần lớn hoặc lỗ lớn thì vẫn cứ duy trì. 12 tập đoàn kinh tế hiện nay chẳng hạn, nơi nào cần giữ 100%, nơi nào chưa cần thiết. Chẳng hạn như dệt may la một ngành hoàn toàn có thể cạnh tranh bình thường. Doanh nghiệp tư nhân, nước ngoài tham gia rất nhiều thì hà cớ gì còn phải giữ Tập đoàn Dệt may của Nhà nước.
Việc này không có ý nghĩa bao nhiêu, kể cả nói về công ăn việc làm. Họ không tạo được nhiều việc làm hơn so với doanh nghiệp tư nhân trong cùng lĩnh vực. Thế mà về hiệu quả đầu tư thì họ lại không bằng, trong khi cạnh tranh bên ngoài thì các doanh nghiệp tư nhân cũng xuất khẩu ngang ngửa. Vậy thì không có lý do để mà giữ doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực đó nữa.
- Những doanh nghiệp nào nên giữ lại chưa cổ phần hóa, thưa bà?
- Cần nhắc lại nguyên tắc là Nhà nước điều hành bằng chính sách, chứ không nhất thiết phải lập ra các đơn vị để trực tiếp kinh doanh. Bởi vậy, có rất nhiều lĩnh vực mà về lâu dài, Nhà nước không cần nắm giữ. Ví dụ như điện chẳng hạn. Với Luật Điện lực đang dự kiến sửa đổi thì tư tưởng thị trường hóa dần dần đã rõ thì việc duy trì một tập đoàn là không cần thiết. Dầu khí cũng vậy khi mà Petro Việt Nam đã chấp nhận sự tham gia của nhiều đối tác.
Như vậy EVN, PVN hay ngay cả Vinacomin có thể cổ phần hóa được thì không có doanh nghiệp nào là cấm kỵ cả. Như vậy sẽ huy động vốn tốt từ nền kinh tế, Chính phủ không phải bỏ tiền đồng thời cũng giữ được cam kết khi gia nhập WTO. Ngoài vấn đề tài chính thì năng lực quản trị của doanh nghiệp cũng sẽ được cải thiện. Khi đó, chắc chắn sẽ không có những vụ việc như Vinashin, Vinalines…

Hãy đến với Luật Á Châu, luật Hoàng đạo để có sự hỗ trợ đảm bảo tốt nhất cho doanh nghiệp của bạn về mặt pháp lý trước các đối thủ cạnh tranh.


Trong hoạt động kinh doanh, nhiều doanh nghiệp chưa coi trọng yếu tố pháp luật, coi trọng việc có một luat su để tư vấn pháp luật cho công ty mà chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận, nhưng quan trọng hơn hết phải bảo đảm an toàn pháp lý. Vì nếu doanh nghiệp kinh doanh trái pháp luật thì lợi nhuận có được sẽ bị pháp luật tước bỏ và có thể dẫn đến cho chủ doanh nghiệp những rủi ro pháp lý khác.

Dẫn dắt doanh nghiệp đi trong hành lang pháp lý an toàn là vai trò của luat su và các chuyên gia pháp lý. Kinh tế phát triển, pháp luật sẽ ngày một hoàn thiện hơn, điều chỉnh chặt chẽ hơn các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang ngày một sâu và rộng, các quốc gia thường xuyên ký kết các hiệp định thương mại song phương với nhau, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế ... thì những quy định pháp luật về kinh doanh là vô cùng phức tạp đòi hỏi chúng ta phải có những chuyên gia pháp lý và luật sư giỏi về nghiệm vụ và có kinh nghiệm nghề nghiệp mới xử lý hiệu quả vấn đề này.
Mặt khác để xây dựng được một phòng pháp chế để tư vấn luật cho doanh nghiệp rất tốn kém chi phí và hoạt động không hiệu quả bởi các chuyên gia pháp lý tại các doanh nghiệp thường thiếu các kỹ năng tổng hợp như tranh tụng, tư vấn, đàm phán. Từ những thực tế trên Công ty Luật Á Châu đã xây dựng và cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên bởi các luat su có kinh nghiệm cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực yêu cầu có tính pháp lý cao.
Hãy đến với Luật Á Châu, luật Hoàng đạo để có sự hỗ trợ đảm bảo tốt nhất cho doanh nghiệp của bạn về mặt pháp lý trước các đối thủ cạnh tranh.

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Chuyện dòng tiền Hoàng Anh Gia Lai



Đầu tư vào các dự án đòi hỏi vốn lớn nhưng doanh thu đến chậm, Hoàng Anh Gia Lai đang đứng trước bài toán khó về cân đối dòng tiền.

Không ai phủ nhận tiềm năng của những dự án mà tập đoàn này đang tham gia, nhưng thiếu tiền mặt có thể sẽ là câu chuyện làm đau đầu Chủ tịch Đoàn Nguyên Đức. 

Vốn nổi tiếng với nhiều phát biểu gây sốc, Gần đây Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) Đoàn Nguyên Đức lại một lần nữa làm dậy sóng dư luận khi cho biết HAGL sẽ có đợt hạ giá căn hộ.

Theo ông Đức, giá bán của những căn hộ HAGL sắp tung ra ở quận 7 chỉ bằng 50% so với những dự án cùng vị trí. Sau khi tung ra “đòn gió” này, bầu Đức đã bị giới kinh doanh nhà đất “ném đá”, bởi ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến việc bán hàng của các doanh nghiệp khác. Có lẽ cũng chính vì vậy mà những ngày qua thông tin Công ty Hoàng Anh Gia Lai nợ trên 15.493 tỉ đồng và sắp phá sản tới nơi được bàn tán khá rôm rả.

Vấn đề nằm ở dòng tiền

Đáp lại tin đồn, HAGL đã đưa ra cơ cấu về nguồn vốn và tỉ lệ nợ vay để chứng minh rằng không có chuyện phá sản. Chi phí lãi vay năm 2011 được Công ty báo cáo ở mức 464,8 tỉ đồng, tuy tăng gấp đôi so với năm 2010, nhưng nếu so sánh với tổng mức nợ vay thì lãi suất cũng chưa quá 10%. Bởi lẽ hơn 70% trong tổng nợ vay 11.622 tỉ đồng là nợ dài hạn.

Quan trọng là HAGL vẫn làm ăn có lời để trả lãi vay, khi hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay so với chi phí lãi suất là 4,7 lần. HAGL cũng đang có trong tay 2.896 tỉ đồng tiền mặt, bằng 90,3% nợ vay ngắn hạn nói trên, nên dư địa để trả nợ là hoàn toàn có.

Doanh thu và lợi nhuận của HAGL năm 2011 sụt giảm, nhưng không phải là bất thường trong tình hình khó khăn chung của nền kinh tế, đặc biệt là thị trường bất động sản. Các khoản mục tồn kho và phải thu không có biến động tăng bất thường, không lo đến doanh thu ảo hay đình đốn.

Tuy nhiên, nếu căn cứ vào dòng tiền, HAGL có thể gặp khó khăn. Báo cáo tài chính của HAGL cho thấy dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh ngày càng đi xuống kể từ năm 2009. Cụ thể, năm 2009, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của Tập đoàn là khoảng 1.000 tỉ đồng, năm 2010 chỉ còn 294 tỉ đồng và đến năm 2011 đã âm 993 tỉ đồng.

Nếu phân tích kỹ những chiến lược đầu tư trong năm nay của HAGL, dòng tiền có thể sẽ tiếp tục gặp vấn đề. Năm 2012, để trả lãi vay, chi phí đầu tư cho các dự án thủy điện, cao su, mía đường và xây dựng các dự án bất động sản, HAGL cần phải chi ra 5.603 tỉ đồng. Trong khi đó, cộng các khoản thu dự kiến (tính trong trường hợp tốt nhất là căn hộ và khoáng sản sẽ bán được) thì theo ước tính của Công ty Chứng khoán Bản Việt, tổng nguồn thu bằng tiền mặt cũng chỉ khoảng 3.600 tỉ đồng.

Như vậy, để đảm bảo được chi phí vốn, HAGL phải dùng đến khoảng 2.000 tỉ đồng. So với số tiền mặt tập đoàn này có trong tay tính đến cuối năm 2011 là 2.896 tỉ đồng, các khoản chi này sẽ làm sụt giảm lượng tiền mặt xuống rất thấp.

Trong phản hồi của HAGL với báo giới, ông Võ Trường Sơn, Phó Tổng Giám đốc phụ trách tài chính, đã phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của Tập đoàn để khẳng định tình hình tài chính của họ là an toàn.

Theo ông Sơn, nguồn vốn dài hạn chiếm đến 73% tổng tài sản của HAGL, trong khi tài sản dài hạn chỉ chiếm 48%. Điều này có nghĩa HAGL đã dùng 25% nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, có thể xem là một cái “đệm” an toàn về thanh khoản.

Về nợ ngắn hạn và khả năng trả nợ, ông cho biết: “Hiện nay tài sản ngắn hạn của HAGL chiếm đến 52%, trong khi nợ ngắn hạn chỉ chiếm 27%. Điều này cho thấy HAGL chỉ cần thu hồi một nửa tài sản ngắn hạn là có thể thanh toán hết nợ ngắn hạn”.

Tài sản ngắn hạn mà ông Sơn nói đến chính là những dự án căn hộ đang xây, số quặng sắt đã khai thác chưa bán được. Tuy nhiên, trong tình hình thị trường hiện nay, triển vọng thu hồi tài sản ngắn hạn như ông Sơn nói không phải là dễ.

Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2012, mức tồn kho của HAGL đã tăng 258 tỉ so với cuối năm 2011, lên đến 4.676 tỉ đồng. Trong đó, có 3.697 tỉ là chi phí tồn kho các căn hộ đang xây để bán. Báo cáo này cũng củng cố thêm xu hướng sụt giảm tiền mặt của tập đoàn. Lượng tiền mặt tính đến hết quý I chỉ còn 1.687 tỉ đồng, giảm ròng hơn 1.200 tỉ đồng so với 3 tháng trước đó. Góp phần lớn nhất vào sự sụt giảm tiền mặt này là tiền chi để mua sắm, xây dựng tài sản cố định và tiền trả nợ gốc vay.

Dòng tiền tương lai và ván cờ quặng sắt

Câu chuyện về dòng tiền không ổn định của HAGL cho thấy, họ cũng không đứng bên lề khó khăn chung của thị trường. Tuy nhiên nếu xem xét kỹ, khó khăn về dòng tiền của HAGL dường như xuất phát từ một nước cờ rủi ro của bầu Đức: quá kỳ vọng vào lĩnh vực khai khoáng, mà chủ yếu là quặng sắt.

Cơ cấu doanh thu của HAGL từ năm 2010 trở về trước cho thấy, ngoài mảng bất động sản luôn đóng góp khoảng 60% doanh thu của toàn Tập đoàn, các mảng còn lại khá phân tán. Chẳng hạn, mảng sản phẩm, hàng hóa, mà chủ yếu là đồ gỗ, chiếm chưa tới 20%; xây dựng khoảng 10%. Điều đáng nói là tỉ trọng của các mảng này lại có xu hướng giảm dần. Và trong lúc nguồn thu từ thủy điện, cao su vẫn đang ở thì tương lai, HAGL đã dần chuyển sang đặt trọng tâm vào mảng khoáng sản.

Nước cờ khoáng sản của bầu Đức không phải không có lý. “Đây là lĩnh vực không đòi hỏi vốn lớn nhưng có tỉ suất sinh lợi cao, chỉ cần đầu tư ban đầu khoảng 20 triệu USD là có thể sản xuất ra sản phẩm. Quặng sắt lại dễ dự trữ, có thể xuất ra bán dễ dàng. Đây là ngành sẽ góp phần điều hòa và tạo sự ổn định cho dòng lợi nhuận của Tập đoàn”, bầu Đức giải thích cho lý do đầu tư vào khai thác quặng sắt của HAGL.

Thực tế, nhu cầu quặng sắt trên thế giới luôn ở mức cao, đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc. Với trữ lượng gần 60 triệu tấn gồm các mỏ của HAGL phân bố tại Tây Nguyên, Thanh Hóa, Lào và Campuchia, tập đoàn này sẽ thu được khoảng 7,2 tỉ USD (dựa trên giá bán bình quân ước tính là 120 USD/tấn quặng tinh) trong suốt quá trình khai thác.

Năm 2009, trong ngày đại hội cổ đông, ông Đức từng tuyên bố rằng, trong khoảng 2 năm nữa doanh thu từ khoáng sản sẽ dần thay thế cho bất động sản. Chiến lược kinh doanh của HAGL sau đó cũng đã thể hiện rõ ý đồ này. Theo đó, năm 2010 HAGL dự kiến sẽ khai thác khoảng 400.000 tấn quặng sắt, năm 2011 là 1 triệu tấn và năm 2012 là 1,5 triệu tấn.

1,5 triệu tấn này nếu nhân với 120 USD/tấn, HAGL sẽ có khoảng 180 triệu USD, hơn 3.600 tỉ đồng. Rõ ràng, nếu đúng như kế hoạch, khoáng sản hoàn toàn có thể thay thế vị trí của bất động sản. Năm 2009 thị trường bất động sản đã bước vào giai đoạn khó khăn, do vậy HAGL không kỳ vọng nhiều vào dòng tiền từ mảng này.

Tuy nhiên, những dự định này đã bị phá sản khi việc xuất khẩu khoáng sản ngày càng khó khăn, nhất là sau Chỉ thị 02/CT-TTg ban hành đầu năm 2012. Theo đó, Thủ tướng đã chỉ thị dừng hoàn toàn việc xuất khẩu quặng sắt để phục vụ cho các cơ sở sản xuất gang, thép trong nước.

Cửa xuất khẩu từ Việt Nam đã khép, mọi hy vọng có lẽ được HAGL dồn vào các mỏ sắt tại Lào và Campuchia. Theo phân tích của Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam, quặng sắt có triển vọng rất tích cực. Khối lượng quặng sắt bán ra của vùng châu Á - Thái Bình Dương và Đông Canada trong năm 2012 có thể đạt 11 và 12 triệu tấn mỗi vùng. Giá quặng sắt ĐôngCanada có thể đạt 135-145 USD/tấn. Tại thị trường Trung Quốc, các doanh nghiệp sản xuất sắt thép ở quốc gia này sẵn sàng đặt cọc 20-50%, chấp nhận cả quặng xấu, hàm lượng sắt kém. Có công ty mua hàng triệu tấn về để đó, chưa sử dụng vẫn cứ mua, dù với giá cao. Nếu HAGL khai thác ngay các mỏ sắt tại Lào hoặc Campuchia để xuất khẩu thì sẽ không gặp khó khăn bởi chỉ thị cấm xuất khẩu.

Tuy nhiên, trong báo cáo thường niên 2011, kế hoạch khai thác quặng sắt trong 3 năm tới đã được HAGL điều chỉnh còn rất khiêm tốn: năm 2012 chỉ khai thác 300.000 tấn, năm 2013 và 2014 là 550.000 tấn. Kế hoạch khiêm tốn như trên cho thấy HAGL không chỉ gặp khó khăn trong nước. Theo dự kiến, đến cuối quý IV/2012 HAGL mới có thể khai thác được mỏ sắt tại Lào.

Những khó khăn về xuất khẩu đang khiến HAGL cố xoay xở để tiêu thụ quặng sắt trong nước. Mới đây, HAGL đã công bố thông tin ký hợp đồng bán 100.000 tấn tinh quặng sắt cho Tập đoàn Hòa Phát trị giá trên 171 tỉ đồng. Như vậy, giá bán cho Hòa Phát chỉ khoảng 1,7 triệu đồng/tấn, tương đương 85 USD, rẻ hơn rất nhiều so với dự tính 120 USD/tấn của Bầu Đức.

Có lẽ vì thế mà kỳ vọng lợi nhuận năm 2012 của bầu Đức đã phải san sẻ bớt sang bất động sản, vốn cũng không dễ dàng gì trong lúc này. Tuyên bố hạ giá căn hộ 50% so với các dự án cùng vị trí được giới đầu tư nhận định là một bước đẩy hàng của HAGL, trong lúc nguồn thu từ quặng sắt không sáng sủa. Kế hoạch doanh thu cũng được điều chỉnh khiêm tốn hơn. “Quý I, Hội đồng Quản trị đã xây dựng kế hoạch lợi nhuận 1.700 tỉ đồng, nhưng trước tình hình vĩ mô biến động, HAGL đã điều chỉnh kịch bản xấu để xây dựng kế hoạch lợi nhuận 1.200 tỉ đồng”, bầu Đức chia sẻ với các cổ đông trong đại hội thường niên năm 2012.

Kế hoạch lợi nhuận khiêm tốn này cho thấy, HAGL đã nhìn ra được thách thức lớn của họ và thận trọng hơn trong chiến lược đầu tư. Đối với bài toán dòng tiền, gọi thêm vốn từ bên ngoài cũng là một khả năng HAGL có thể tính tới. Tại đại hội cổ đông thường niên 2012, ông Đức đã chia sẻ, có nhiều tập đoàn muốn đầu tư vào HAGL lúc này. Những mục tiêu mà các nhà đầu tư này nhắm tới, theo phân tích của ông Đức, chính là tiềm năng tăng giá cao su rất cao vào năm 2014, 2015; nguồn thu ổn định từ thủy điện; quỹ đất đủ để thực hiện khoảng 16 dự án bất động sản với tổng diện tích sàn khoảng 2 triệu m2. Rõ ràng, khả năng huy động vốn trên thị trường quốc tế đối với HAGL là có thể. Tuy nhiên, lãi suất là vấn đề đáng lưu tâm lúc này, khi xếp hạng tín dụng của HAGL không được sáng sủa.

Giữa tháng 3/2012, tổ chức xếp hạng tín dụng Fitch đã điều chỉnh triển vọng tín dụng của HAGL từ “ổn định” xuống mức “tiêu cực”. Và theo tổ chức này, HAGL chỉ có thể được điều chỉnh lên “ổn định” nếu giảm được lượng hàng tồn và hoạt động kinh doanh quặng sắt, thủy điện hỗ trợ tốt cho tình hình tài chính của công ty. Tuy nhiên, với việc thủy điện chỉ đóng góp 3,2% tổng doanh thu năm 2011, doanh số bán quặng sắt chắc chắn sẽ giảm do chính sách mới, khả năng HAGL tiếp tục bị hạ bậc là rất cao. Hy vọng của HAGL bây giờ có lẽ phải đặt trở lại vào bất động sản.

Luật sư tại luật á châu


Trong hoạt động kinh doanh, nhiều doanh nghiệp chưa coi trọng yếu tố pháp luật, coi trọng việc có một luat su để tư vấn pháp luật cho công ty mà chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận, nhưng quan trọng hơn hết phải bảo đảm an toàn pháp lý. Vì nếu doanh nghiệp kinh doanh trái pháp luật thì lợi nhuận có được sẽ bị pháp luật tước bỏ và có thể dẫn đến cho chủ doanh nghiệp những rủi ro pháp lý khác.

Dẫn dắt doanh nghiệp đi trong hành lang pháp lý an toàn là vai trò của luat su và các chuyên gia pháp lý. Kinh tế phát triển, pháp luật sẽ ngày một hoàn thiện hơn, điều chỉnh chặt chẽ hơn các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang ngày một sâu và rộng, các quốc gia thường xuyên ký kết các hiệp định thương mại song phương với nhau, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế ... thì những quy định pháp luật về kinh doanh là vô cùng phức tạp đòi hỏi chúng ta phải có những chuyên gia pháp lý và luật sư giỏi về nghiệm vụ và có kinh nghiệm nghề nghiệp mới xử lý hiệu quả vấn đề này.
Mặt khác để xây dựng được một phòng pháp chế để tư vấn luật cho doanh nghiệp rất tốn kém chi phí và hoạt động không hiệu quả bởi các chuyên gia pháp lý tại các doanh nghiệp thường thiếu các kỹ năng tổng hợp như tranh tụng, tư vấn, đàm phán. Từ những thực tế trên Công ty Luật Á Châu đã xây dựng và cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên bởi các luat su có kinh nghiệm cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực yêu cầu có tính pháp lý cao.
Hãy đến với Luật Á Châu, luật Hoàng đạo để có sự hỗ trợ đảm bảo tốt nhất cho doanh nghiệp của bạn về mặt pháp lý trước các đối thủ cạnh tranh.

Tư vấn hợp đồng tại luật á châu


Người tu van hop dong, soạn thảo hợp đồng không những đảm bảo lợi ích của các bên trong hợp đồng mà còn phải dự kiến được những rủi ro sẽ xảy ra trong tương lai để có thể điều chỉnh các điều khoản hợp đồng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn và qui định của pháp luật.
Hơn vậy, vai trò của hợp đồng trong các giao dịch của doanh nghiệp ngày càng quan trọng bởi các đối tác trong hợp đồng của doanh nghiệp hầu hết là các doanh nhân chuyên nghiệp, rất am hiểu luật về các vấn đề liên quan đến nội dung của hợp đồng cũng như các qui định liên quan đến hợp đồng vô hiệu, giải quyết tranh chấp.

Những nội dung Luật Á Châu thực hiện trong quá trình tu van thue:

1. Tư vấn về cách thức giao kết hợp đồng – Tu van hop dong.


+ Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng;
+ Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng;
+ Huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng;
+ Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng;
+ Sửa đổi đề nghị;
+ Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng;
+ Hình thức hợp đồng.

2. Tư vấn xây dựng nội dung của hợp đồng


+ Phương thức thoả thuận số lượng, chất lượng sản phẩm;
+ Phương thức xây dựng giá và phương thức thanh toán;
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
+ Các quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;
+ Thời điểm nên giao kết hợp đồng
+ Các quy định về trách nhiệm của bên vi phạm hợp đồng;
+ Các trường hợp Hợp đồng vô hiệu;
+ Mức phạt vi phạm hợp đồng phù hợp;
+ Xây dựng Phụ lục hợp đồng
+ Các nội dung khác có liên quan:

Thủ tục xin giấy phép


1. Cơ sở pháp lý:

- Pháp lệnh quảng cáo năm 2001
- Nghị định 24/2003 của Chính Phủ quy định chi tiết Pháp lệnh quảng cáo 2001
- Thông tư 43/2003 của Bộ văn hóa thông tin quy định chi tiết nghị định 24/2003 của Chính Phủ

2. Thẩm quyền cấp phép:

- Sở Văn hoá - Thông tin cấp Giấy phép thực hiện quảng cáo cho các đối tượng: Quảng cáp trên bảng, biển, pano, băng rôn, màn hình đặt nơi công cộng, vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, phương tiện giao thông, vật thể di động;
- Bộ Văn hóa Thông tin cấp Giấy phép cho việc ra phụ trang, phụ bản, chuyên trang quảng cáo đối với báo in; các chương trình, kênh chuyên trang quảng cáo hoặc quá thời lượng quảng cáo cho phép trên đài truyền hình, đài phát thanh

3. Hồ sơ xin cấp phép, xin giay phep:

3.1.Việc xin phép ra phụ trang, phụ bản đối với báo in; kênh, chương trình chuyên quảng cáo đối với Đài phát thanh, Đài truyền hình thực hiện theo quy định của pháp luật về hoạt động báo chí.

3.2. Hồ sơ đăng ký thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính bao gồm:
- Đăng ký thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính, số lượng sản phẩm quảng cáo, thời gian thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính (phụ lục 1 Thông tư 43/2003 ).
- Bản sao có giá trị pháp lý giấy phép cung cấp thông tin trên mạng thông tin máy tính (ICP) hoặc giấy phép lập trang tin điện tử (Website).
- Bản sao có giá trị pháp lý giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo khi xin giay phep(đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên mạng thông tin máy tính).
- Đĩa hoặc sản phẩm có chứa các sản phẩm quảng cáo (hai bản).
3.3.Tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo trên bảng, biển, pa-nô, băng-rôn, vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, vật thể di động khác và các hình thức quảng cáo tương tự phải gửi hồ sơ xin phép đến Sở Văn hoá - Thông tin nơi thực hiện quảng cáo. Hồ sơ gồm:
a) Đơn xin thực hiện quảng cáo (Phụ lục 2 Thông tư 43/2003 );
b) Bản sao có giá trị pháp lý giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo (đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo) hoặc bản sao có giá trị pháp lý giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề, hàng hoá (đối với doanh nghiệp, cá nhân tự quảng cáo);
c) Bản sao có giá trị pháp lý giấy đăng ký chất lượng hàng hoá hoặc các giấy tờ tương tự về chất lượng hàng hoá đối với hàng hoá quảng cáo mà pháp luật quy định phải đăng ký chất lượng;
d) Mẫu (makét) sản phẩm quảng cáo;
đ) Văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền về xây dựng đối với bảng, biển, pa-nô, màn hình treo, đặt, dán, dựng ở ngoài trời mà pháp luật về xây dựng quy định phải thẩm định về kết cấu xây dựng.
e) Đối với quảng cáo trong lĩnh vực y tế hoặc nông nghiệp khi xin giay phep phải có văn bản tiếp nhận hồ sơ đăng ký nội dung quảng cáo có giá trị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về y tế đối với quảng cáo trong lĩnh vực y tế hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp đối với quảng cáo trong lĩnh vực nông nghiệp quy định tại các khoản 4 và 6 Điều 17 Nghị định số 24/2003/NĐ-CP.
g) Đối với quảng cáo khuyến mại phải có văn bản có giá trị pháp lý xác nhận về nội dung chương trình khuyến mãi của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại.

Bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp


Luật Hoàng Đạo chuyên cung cấp Dịch vụ đăng ký Logo, bao ho thuong hieu, cung cấp hồ sơ Đăng ký Logo cho khách hàng. Dịch vụ đăng ký Logo của Luật Hoàng Đạo đảm bảo làm thủ tục cho khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn với chi phí dịch vụ thấp nhất.
Hãy liên hệ với Luật Hoàng Đạo để được tư vấn miễn phí và được cung cấp các dịch vụ tư vấn luật tốt nhất qua web: luatachau.vn!  
TƯ VẤN ĐĂNG KÝ LOGO TẠI LUẬT HOÀNG ĐẠO:
Khách hàng tư vấn Đăng ký Logo tại Luật Hoàng Đạo sẽ được hưởng một số dịch vụ ưu đãi miễn phí của công ty như:

1. Tư vấn trước khi Đăng ký Logo, bao ho thuong hieu:

   Luật Hoàng Đạo sẽ tư vấn miễn phí cho khách hàng toàn bộ hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động Đăng ký Logo như:
- Tư vấn phân loại nhóm (lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu) theo bảng phân nhóm quốc tế đảm bảo phạm vi bảo hộ rộng, bảo hộ bao vây, phù hợp với lĩnh vực quý công ty đang kinh doanh.
- Tư vấn lựa chọn các phương án lựa chọn tên Logo nhãn hiệu, tư vấn thêm các tiền tố khi cần thiết để đảm bảo tính khác biệt khi bảo hộ.
- Tư vấn thiết kế, nâng cấp, bổ sung logo, phối màu khi cần thiết.
- Tư vấn tra cứu Logo nhãn hiệu.
- Tư vấn những yếu tố được bảo hộ, những yếu tố không nên bảo hộ.
- Tư vấn mô tả nhãn hiệu nhằm bao ho thuong hieu tuyệt đối ý nghĩa và cách thức trình bày của logo (nhãn hiệu).
- Tư vấn khả năng bị trùng, tương tự có thể bị dẫn đến khả năng bị từ trối của Logo.

2.  Kiểm tra, đánh giá tính pháp lý của các yêu cầu tư vấn và các giấy tờ của khách hàng:

- Trên cơ sở các yêu cầu và tài liệu khách hàng cung cấp, các luật sư của chúng tôi sẽ  phân tích, đánh giá tính hợp pháp, sự phù hợp với yêu cầu thực hiện công việc;
- Trong trường hợp khách hàng cần luật sư tham gia đàm phán, gặp mặt trao đổi với đối tác của khách hàng trong việc đăng ký Logo, chúng tôi sẽ sắp xếp, đảm bảo sự tham gia theo đúng yêu cầu;
- Chúng tôi đại diện cho khách hàng dịch thuật, công chứng các giấy tờ có liên quan.